Bội chi ngân sách nhà nước là (Tổng số) chỉ lớn hơn (tổng số) thu trong năm ngân sách, tình trạng mất cân đối của ngân sách, phản ánh sự thiếu hụt của nền tài chính.

Bội chỉ ngân sách kéo dài sẽ rối loạn lưu thông tiền tệ và giá cả, dẫn đến lạm phát, ảnh hưởng xấu đến quá trình tái sản xuất toàn bộ nền kinh tế và đời sống của các tầng lớp nhân dân. Chính vì vậy, Luật ngân sách nhà nước năm 2002 của Việt Nam quy định Quốc hội là cơ quan quyết định mức bội chỉ và về nguồn bù đắp. (Tổng số) thu lớn hơn (tổng số) chỉ trong năm ngân sách.

Bội thu ngân sách là biểu hiện tình trạng lành mạnh và ổn định của ngân sách nhà nước, tạo cơ sở để tăng cường dự trữ tài chính của quốc gia.

Căn cứ để xác định tình trạng bội thu ngân sách trong năm ngân sách là dự toán ngân sách nhà nước đã được quyết định. Số chênh lệch lớn hơn giữa tổng số thu so với tổng số chỉ gọi là số kết dư ngân sách nhà nước. Luật ngân sách nhà nước có các quy định cụ thể về sử dụng số kết dư ngân sách nhà nước. Riêng đối với ngân sách của các cấp chính quyền địa phương, số kết dư của ngân sách cấp nào là nguồn thu của ngân sách cấp đó trong năm ngân sách kế tiếp. Trong quá trình chấp hành ngân sách nhà nước, nếu có sự tăng thu và tiết kiệm chỉ so với dự toán được giao thì được sử dụng để giảm hội chỉ, tăng chỉ trả nợ, tăng chỉ đầu tư phát triển, bổ sung quỹ dự trữ tài chính, tăng dự phòng ngân sách… Hàng năm, trong trường hợp có số tăng thu ngân sách trung ương So với ngân sách dự toán từ các khoản thu phân chia giữa ngân sách trung ương và ngân sách địa phương, Chính phủ quyết định việc trích một phần theo tỈ lệ không quá 30% của số tăng thu thưởng cho ngân sách địa. phương nhưng không được vượt quá số tăng thu so với mức thực hiện năm trước.