Mục lục bài viết

  • 1. Không ký kết hợp đồng lao động sau thời gian thử việc đúng hay sai ?
  • 2. Trả mức lương thử việc thấp hơn 85% có bị phạt không ?
  • 3. Hợp đồng lao động thử việc tự chuyển thành hợp đồng lao động được không ?

1. Không ký kết hợp đồng lao động sau thời gian thử việc đúng hay sai ?

Tôi được nhận vào làm và ký hợp đồng thử việc 2 tháng theo diện hợp đồng 68 với 1 cơ quan nhà nước. Công việc của tôi là quét dọn và làm vệ sinh. Hết thời hạn thử việc tôi vẫn được làm việc nhưng không thấy được ký hợp đồng tiếp. Tôi vẫn tiếp tục làm việc từ đó cho tới nay. Tiền lương của tôi các tháng trước đã trừ đi tiền bảo hiểm nhưng 3 năm làm việc tôi không hề nhận được BHYT hay sổ BHXH. Tôi có tham gia công đoàn cơ quan và vẫn phải đóng phí đều đặn. Như vậy, việc tôi không được ký hợp đồng lao động có đúng không? – và tôi có thuộc diện bị cắt giảm lao động không vì lúc tôi vào làm tổ của tôi có 7 người, sau đó 1 người nghỉ hưu và 1 người nghỉ làm, công việc thì được giao thêm nhưng số lượng người làm lại giảm đi 2, và công việc của tôi ngày nào cũng phải làm.
Tôi rất mong nhận được lời khuyên. Tôi xin chân thành cảm ơn.

Trả lời:

Điều 1 Nghị định số 68/2000/NĐ-CP của Chính phủ quy định về việc thực hiện chế độ hợp đồng một số loại công việc trong cơ quan hành chính nhà nước, đơn vị sự nghiệp như sau:

Điều 1. Thực hiện chế độ hợp đồng đối với một số loại công việc sau đây trong cơ quan hành chính nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập:

1. Sửa chữa, bảo trì đối với hệ thống cấp điện, cấp, thoát nước ở công sở, xe ô tô và các máy móc, thiết bị khác đang được sử dụng trong cơ quan, đơn vị sự nghiệp;

2. Lái xe;

3. Bảo vệ;

4. Vệ sinh;

5. Trông giữ phương tiện đi lại của cán bộ, công chức và khách đến làm việc với cơ quan, đơn vị sự nghiệp;

6. Công việc thừa hành, phục vụ khác có yêu cầu trình độ đào tạo từ trung cấp trở xuống.”

Theo đó, có thể thấy công việc của bạn là quét dọn và làm vệ sinh mang tính chất thường xuyên, liên tục. Theo quy định trên thì cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập phải thực hiện ký kết hợp đồng với bạn theo đúng quy định nêu trên và phải có trách nhiệm đóng bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội cho bạn theo đúng quy định của Luật Bảo hiểm xã hội.

Hơn nữa, theo như thông tin bạn cung cấp thì tổ của bạn có 7 người nhưng trong số đó 1 người nghỉ hưu và một người nghỉ làm, công việc thì vẫn được giao thêm nhưng số người làm lại giảm đi. Vì vậy để đảm bảo điều kiện và khả năng hoàn thành công việc, phía cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp mà bạn đang làm không thể viện lý do cắt giảm biên chế hay dôi dư lao động để từ chối việc tiếp tục ký hợp đồng với bạn. Điều 5 Nghị định 68/2000/NĐ-CP ngày 17/11/2000 của Chính phủ quy định:

“1.Các công việc quy định tại Điều 1 của Nghị định này được thực hiện thông qua ký kết hợp đồng giữa cơ quan hành chính nhà nước, đơn vị sự nghiệp với cá nhân trực tiếp làm, hoặc cá nhân, tổ chức kinh doanh dịch vụ dưới các dạng: hợp đồng thuê khoán tài sản, hợp đồng dịch vụ, hợp đồng lao động, hợp đồng kinh tế và các loại hợp đồng khác theo quy định của pháp luật.

2. Không ký hợp đồng đối với các công việc quy định tại Điều 1 của Nghị định này khi những người trong biên chế đang đảm nhận công việc có đủ điều kiện, khả năng thực hiện.”

>&gt Xem thêm:  Nghỉ việc trong thời gian thử việc có cần báo trước không ?

2. Trả mức lương thử việc thấp hơn 85% có bị phạt không ?

Tôi mới ra trường đi làm vị trí nhân viên kinh doanh của công ty. Lương chính thức của tôi khi trao đổi là 07 triệu đồng, nhưng thử việc chỉ được trả 5 triệu đồng, mà tôi được biết là lương thử việc phải là 85% lương khi làm chính thức. Như thế có bị vi phạm không và mức xử phạt là bao nhiêu?
Cảm ơn!

Trả lời:

Theo điều số 27 Bộ luật lao động năm 2012 quy định về thời gian thử việc cụ thể như sau :

Điều 27. Thời gian thử việc

Thời gian thử việc căn cứ vào tính chất và mức độ phức tạp của công việc nhưng chỉ được thử việc 01 lần đối với một công việc và bảo đảm các điều kiện sau đây:

1. Không quá 60 ngày đối với công việc có chức danh nghề cần trình độ chuyên môn, kỹ thuật từ cao đẳng trở lên;

2. Không quá 30 ngày đối với công việc có chức danh nghề cần trình độ chuyên môn kỹ thuật trung cấp nghề, trung cấp chuyên nghiệp, công nhân kỹ thuật, nhân viên nghiệp vụ.

3. Không quá 6 ngày làm việc đối với công việc khác.

Theo đó, tiền lương của người lao động trong thời gian thử việc do hai bên thoả thuận nhưng ít nhất phải bằng 85% mức lương của công việc đó.

Điều 6 Nghị định số 4756/VBHN-BLĐTBXH Quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực lao động, bảo hiểm xã hội, đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng quy định xử phạt vi phạm hành chính vể quy định thử việc :

“Điều 6. Vi phạm quy định về thử việc

1. Phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng đối với người sử dụng lao động khi có một trong các hành vi sau đây:

a) Yêu cầu thử việc đối với người lao động làm việc theo hợp đồng lao động theo mùa vụ;

b) Không thông báo kết quả công việc người lao động đã làm thử theo quy định của pháp luật.

2. Phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với người sử dụng lao động có một trong các hành vi sau đây:

a) Yêu cầu người lao động thử việc quá 01 lần đối với một công việc;

b) Thử việc quá thời gian quy định;

c) Trả lương cho người lao động trong thời gian thử việc thấp hơn 85% mức lương của công việc đó;

d) Kết thúc thời gian thử việc, người lao động vẫn tiếp tục làm việc mà người sử dụng lao động không giao kết hợp đồng lao động với người lao động.

3. Biện pháp khắc phục hậu quả:

Buộc trả đủ 100% tiền lương của công việc đó cho người lao động đối với hành vi vi phạm quy định tại Điểm a Khoản 1, Điểm a, Điểm b và Điểm c Khoản 2 Điều này.”

Như bạn vừa nêu ra, công ty tuyển dụng bạn đã trả mức lương là 5.000.000 đồng cho vị trí công việc có mức lương chính là 7.000.000 đồng là vi phạm về mức lương tại thời gian thử việc. Và việc công ty trả lương cho bạn như vậy là sai quy định của pháp luật. Bạn có thể yêu cầu công ty trả mức lương cao tương ứng 85% mức lương cho vị trí công việc của bạn. Phía công ty vi phạm thì công ty sẽ bị phạt từ 2.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng .

Trân trọng./.

>&gt Xem thêm:  Sử dụng người nước ngoài làm việc tại Việt Nam có phải đóng bảo hiểm xã hội không, thử việc có cần giấy phép lao động?

3. Hợp đồng lao động thử việc tự chuyển thành hợp đồng lao động được không ?

Hiện tại tôi đang làm việc tại công ty đã được hơn 3 tháng, tôi đã hoành thành thử việc 2 tháng. Sau đó, công ty thông báo là do khó khăn tài chính nên cắt giảm nhận sự, công ty sẽ trả cho tôi 01 tháng lương và yêu cầu tôi viết đơn xin nghỉ. Tôi có thắc mắc là hợp đồng lao động 1 năm mà chỉ đền bù có 1 tháng lương kèm thông báo trước 30 ngày thì có đúng luật không. Công ty tôi giải thích: Trong Hợp đồng lao động đã kí kết: “Khi Người sử dụng lao động có nhu cầu thay đổi về nhân sự Công ty sẽ báo trước cho Người lao động 30 ngày. Trong trường hợp này, công ty sẽ không có trách nhiệm bồi thường bất cứ chi phí hay khoản tiền công, tiền lương nào đối với Người lao động. Khi Người lao động muốn đơn phương chấm dứt Hợp đồng lao động trước thời hạn, sẽ báo trước cho bên sử dụng lao động tối thiểu 30 ngày. Điều khoản này đã được Hai Bên thỏa thuận, được nêu rõ trong HĐLĐ ký kết trước đây. Nội dung điều khoản này cũng thể hiện sự công bằng giữa hai bên, trong trường hợp một Bên sử dụng quyền thỏa thuận chấm dứt Hợp đồng, đều phải thông báo cho Bên kia trước 30 ngày”

Tuy nhiên Sau khi hết thời gian thử việc tôi vẫn đi làm đến nay và chưa được ký hợp đồng lao động 12 tháng mà chỉ nhận thông báo là Hợp đồng lao động của tôi kéo dài thêm 01 năm.

Như vậy, sau khi hết thử việc tôi vẫn đi làm mà chưa ký Hợp đồng lao động có thời hạn như đã trình bày phía trên thì theo quy định pháp luật hợp đồng của tôi với công ty là Hợp đồng lao động có thời hạn bao lâu hay như thế nào? Nếu tôi tự động chuyển thành Hợp đồng lao động một năm mà công ty chỉ bồi thường một tháng lương và báo trước 30 ngày thì có đúng quy định pháp luật hay không?

>> Luật sư tư vấn pháp luật Lao động, gọi: 1900.6162

Trả lời:

1. Về Hợp đồng lao động:

Điều 29 Bộ luật Lao động 2012 có quy định về kết thúc thời gian thử việc như sau:

“1. Khi việc làm thử đạt yêu cầu thì người sử dụng lao động phải giao kết hợp đồng lao động với người lao động.

2. Trong thời gian thử việc, mỗi bên có quyền huỷ bỏ thoả thuận thử việc mà không cần báo trước và không phải bồi thường nếu việc làm thử không đạt yêu cầu mà hai bên đã thoả thuận.”

Như vậy, về nguyên tắc, sau khi việc làm thử đạt yêu cầu thì người sử dụng lao động phải giao kết hợp đồng lao động với người lao động. Trong thời gian thử việc, nếu việc làm thử không đạt yêu cầu mà hai bên đã thoả thuận thì hai bên có quyền huỷ bỏ thoả thuận thử việc mà không cần báo trước và không phải bồi thường. Theo đó, khi hết thời gian thử việc mà công ty không ký kết hợp đồng lao động với người lao động, người lao động cũng không được thông báo kết quả thử việc và vẫn tiếp tục làm việc cho công ty, thì người lao động đương nhiên được làm việc chính thức. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành không có quy định cụ thể về trường hợp vẫn tiếp tục làm việc sau khi kết thúc thời gian thử việc thì được làm việc chính thức sẽ tương ứng với loại hợp đồng lao động nào và trong thời hạn bao lâu? Do đó, phải căn cứ vào thỏa thuận tại hợp đồng thử việc để biết trường hợp sau khi thử việc đạt yêu cầu thì hai bên sẽ ký hợp đồng lao động loại nào, dùng thông tin này làm cơ sở xác định trách nhiệm thực hiện hợp đồng lao động được xác lập đương nhiên sau thời gian thử việc. Trong trường hợp này của bạn, sau thời gian thử việc mà công ty không ký hợp đồng lao động, cũng không thông báo cho bạn về kết quả thử việc, công ty vẫn giao việc cho bạn làm thì đương nhiên hợp đồng lao động giữa bạn và công ty được xác lập.

2. Về việc đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động.

Việc công ty quyết định cho bạn thôi việc mà không có căn cứ, không tuân thủ thời gian báo trước là đơn phương chấm dứt hợp đồng trái pháp luật. Điều 38 Bộ luật lao động 2012 quy định về các trường hợp người sử dụng lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động và thời hạn thông báo khí đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động như sau:

“1. Người sử dụng lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trong những trường hợp sau đây:

a) Người lao động thường xuyên không hoàn thành công việc theo hợp đồng lao động;

b) Người lao động bị ốm đau, tai nạn đã điều trị 12 tháng liên tục đối với người làm theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn, đã điều trị 06 tháng liên tục, đối với người lao động làm theo hợp đồng lao động xác định thời hạn và quá nửa thời hạn hợp đồng lao động đối với người làm theo hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng mà khả năng lao động chưa hồi phục.

Khi sức khỏe của người lao động bình phục, thì người lao động được xem xét để tiếp tục giao kết hợp đồng lao động;

c) Do thiên tai, hỏa hoạn hoặc những lý do bất khả kháng khác theo quy định của pháp luật, mà người sử dụng lao động đã tìm mọi biện pháp khắc phục nhưng vẫn buộc phải thu hẹp sản xuất, giảm chỗ làm việc;

d) Người lao động không có mặt tại nơi làm việc sau thời hạn quy định tại Điều 33 của Bộ luật này.

2. Khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động người sử dụng lao động phải báo cho người lao động biết trước:

a) Ít nhất 45 ngày đối với hợp đồng lao động không xác định thời hạn;

b) Ít nhất 30 ngày đối với hợp đồng lao động xác định thời hạn;

c) Ít nhất 03 ngày làm việc đối với trường hợp quy định tại điểm b khoản 1 Điều này và đối với hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng.”

Khi người sử dụng lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật thì người sử dụng lao động phải thực hiện các nghĩa vụ theo quy định tại Điều 42 Bộ luật Lao động 2012:

“1. Phải nhận người lao động trở lại làm việc theo hợp đồng lao động đã giao kết và phải trả tiền lương, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế trong những ngày người lao động không được làm việc cộng với ít nhất 02 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động.

2. Trường hợp người lao động không muốn tiếp tục làm việc, thì ngoài khoản tiền bồi thường quy định tại khoản 1 Điều này người sử dụng lao động phải trả trợ cấp thôi việc theo quy định tại Điều 48 của Bộ luật này.

3. Trường hợp người sử dụng lao động không muốn nhận lại người lao động và người lao động đồng ý, thì ngoài khoản tiền bồi thường quy định tại khoản 1 Điều này và trợ cấp thôi việc theo quy định tại Điều 48 của Bộ luật này, hai bên thỏa thuận khoản tiền bồi thường thêm nhưng ít nhất phải bằng 02 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động để chấm dứt hợp đồng lao động.”

4. Trường hợp không còn vị trí, công việc đã giao kết trong hợp đồng lao động mà người lao động vẫn muốn làm việc thì ngoài khoản tiền bồi thường quy định tại khoản 1 Điều này, hai bên thương lượng để sửa đổi, bổ sung hợp đồng lao động.

5. Trường hợp vi phạm quy định về thời hạn báo trước thì phải bồi thường cho người lao động một khoản tiền tương ứng với tiền lương của người lao động trong những ngày không báo trước.

Như vậy, sau khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động với bạn, công ty phải bồi thường cho bạn theo các quy định tại Khoản 1 và Khoản 2 Điều 42 Bộ luật Lao động trích dẫn ở trên.

Để đảm bảo quyền lợi của mình, bạn có thể thông qua Hòa giải viên lao động để giải quyết, nếu trong quá trình hòa giải mà hai bên không thể thỏa thuận được với nhau về các vấn đề thì bạn có thể gửi đơn yêu cầu Tòa án nơi công ty đặt trụ sở giải quyết. Hoặc bạn có thể trực tiếp gửi đơn lên Tòa án mà không cần phải thông qua thủ tục hòa giải. Tòa án nhân dân có thẩm quyền để giải quyết căn cứ theo Điều 32 Bộ luật tố tụng Dân sự 2015 quy định Những tranh chấp về lao động thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật lao động bảo hiểm qua Email lienhe@luatminhkhue.vn để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận Tư vấn pháp luật lao động – Công ty luật Minh Khuê

>&gt Xem thêm:  Hỏi về hoàn thuế thu nhập cá nhân (TNCN) đối với hợp đồng thử việc ?