Mục lục bài viết

  • 1. Mẫu bản tường trình sự việc gửi cơ quan điều tra
  • 2. Viết giấy bãi nại cần sự có mặt của công an ?
  • 3. Quy định về tội Trộm cắp tài sản theo luật hiện hành
  • 4. Tiêu thụ tài sản người khác phạm tội gì ?
  • 5. Chủ đại lý tự kênh giá bán lời phạm tội gì?
  • 6. Quan hệ tình dục với người dưới 16 tuổi phạm tội gì ?
  • 7. Loạn luân với cháu gái, hình phạt thế nào ?

1. Mẫu bản tường trình sự việc gửi cơ quan điều tra

Công ty luật Minh Khuê cung cấp mẫu bản tường trình sự việc gửi cơ quan điều tra công an tỉnh để Quý khách hàng tham khảo – Đây là một mẫu mang tính chất minh họa cho một trường hợp cụ thể. Thông tin chi tiết vui lòng liên hệ trực tiếp để được hỗ trợ:

Tổng đài luật sư trực tuyến gọi: 1900.6162.

Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua điện thoại gọi: 1900.6162

———————————–

>> Tải ngay: Mẫu bản tường trình gửi cơ quan điều tra

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

—-***—-

BẢN TƯỜNG TRÌNH

Kính gửi: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh……

Tên tôi là: Nguyễn Thị P Công tác tại: Trung tâm …

Trong năm 20….. và 20….. tôi được cơ quan cử đi khám sàng lọc cho trẻ khuyết tật trên địa bàn tỉnh ………

I./ Năm 2012

Tôi được cơ quan cử đi khám bốn huyện trện địa bàn tỉnh …………….., chia làm hai đợt. Trong đó:

Đợt 1 đi khám 3 huyện: HSP, XM, QB.

Thành phần đoàn đi khám gồm:

– Ông: ………………………………… Giám đốc trung tâm …

– Ông: ………………………………… Lái xe;

– Tôi: Nguyễn Thị P……………… Nhân Viên;

– Ông: ………………………………… Giám đốc trung tâm …;

– Hai người quốc tịch Hà Lan;

– Một người phiên dịch.

Hai người quốc tịch Hà Lan và người phiên dịch đi theo đoàn khám đến hết huyện … thì về.

Nhiệm vụ của tôi trong đoàn khám:

– Vào sổ khám bệnh;

– Hướng dẫn một số kỹ năng tập phục hồi cho trẻ bại não;

– Viết danh sách phát tiền cho bệnh nhân, trong đó:

+ Danh sách 1: Số tiền phát……………..000 đ (…………nghìn đồng) do ông …………….. trực tiếp đưa cho tôi và tôi đưa lại cho từng bệnh nhân sau khi bệnh nhân ký tên vào cột nhận tiền trên danh sách 1, danh sách này viết tổng hợp cả ba huyện và không có phần người phát tiền. Danh sách 1 được trả lại cho ông ………………………. sau khi hết đợt khám.

+ Danh sách 2: Số tiền phát ……………….000 đ (…………… nghìn đồng) do ông …. yêu cầu tôi phải lập thêm để cho bệnh nhân ký và không phát tiền. Danh sách 2 được đặt dưới danh sách 1, khi bệnh nhân ký danh sách 1 thì đồng thời ký danh sách 2. Danh sách này được lập mỗi huyện 1 bản và tôi phải ký tên vào mục người phát tiền trên danh sách huyện……………………. Sau đợt khám Danh sách 2 được nộp lại cho kế toán trung tâm. Số tiền tổng cộng trong danh sách 2 là: ………………..000 đ (… nghìn đồng).

2. Đợt 2 đi khám 1 huyện: ……………………..

Thành phần đoàn đi khám gồm:

– Bà: …………………………………….. Trưởng phòng phục hồi chức năng trung tâm ….

– Ông: ………………………………….. Lái xe;

– Tôi: Nguyễn Thị P………………… Nhân Viên;

Nhiệm vụ của tôi trong đoàn khám:

– Vào sổ khám bệnh;

– Hướng dẫn một số kỹ năng tập phục hồi cho trẻ bại não;

– Viết danh sách phát tiền cho bệnh nhân, trong đó:

+ Danh sách 1: Bà …………………….trực tiếp phát tiền cho từng bệnh nhân số tiền phát là ……..000 đ (Năm mươi nghìn đồng) sau khi bệnh nhân ký tên vào cột nhận tiền trên danh sách 1, lúc bệnh nhân ký cột số tiền chưa được ghi. Sau đó Bà ……………………… yêu cầu tôi viết số tiền trong cột là ……000 đ (…………….nghìn đồng) và ký vào mục người phát tiền. Sau đợt khám danh sách 1 được bà ……………………..giữ.

+ Danh sách 2: Số tiền phát ………………000 đ (………….. nghìn đồng) do Bà ……………… yêu cầu tôi phải lập thêm để cho bệnh nhân ký và không phát tiền. Danh sách 2 được đặt dưới danh sách 1, khi bệnh nhân ký danh sách 1 thì đồng thời ký danh sách 2. Sau đợt khám danh sách 2 được bà …………….. giữ.

Số tiền tổng cộng không phát cho bệnh nhân trong cả hai danh sách là: …………….000000 đ (……………. triệu đồng).

II./ Năm 2013

Tôi được cơ quan cử đi khám bốn huyện trện địa bàn tỉnh ……………………. gồm: …

Thành phần đoàn đi khám gồm:

– Bà: …………………………….. Trưởng phòng phục hồi chức năng trung tâm …

– Ông: …………………………… Lái xe;

– Tôi: ……………………………. Nhân Viên;

Nhiệm vụ của tôi trong đoàn khám:

– Vào sổ khám bệnh;

– Hướng dẫn một số kỹ năng tập phục hồi cho trẻ bại não;

– Viết danh sách phát tiền cho bệnh nhân, trong đó:

Bà …………………………. trực tiếp phát tiền cho từng bệnh nhân số tiền phát là ……………000 đ (……………….. nghìn đồng) sau khi bệnh nhân ký tên vào cột nhận tiền trên danh sách, lúc bệnh nhân ký cột số tiền chưa được ghi. Sau đó …………….. yêu cầu tôi viết số tiền trong cột là …….00000 đ (……. nghìn đồng) và ký vào mục người phát tiền trên danh sách của ba huyện: ………………………… Tổng số tiền không phát cho bệnh nhân là………………..000 đ (……………………………. nghìn đồng). Sau đợt khám danh sách được bà …………………. giữ.

* Tổng số tiền không phát cho bệnh nhân qua hai năm 20………. và 20………. là ……………….000 đ (………………………… nghìn đồng). Tôi không được nhận một đồng nào từ số tiền trên.

* Như vậy dưới sự yêu cầu, chỉ đạo của lãnh đạo: Ông ……………….. và Bà ……………………….. trong năm 20…… và 20…….., là một nhân viên dưới quyền của lãnh đạo tôi phải thực hiện nhiệm vụ theo lệnh của lãnh đạo cấp trên. Qua sự việc trên tôi nhận thấy bản thân mình đã làm sai những việc sau:

– Không nhận thức được tầm nghiêm trọng của sự việc trên, không biết mục đích thật sự của việc viết thêm danh sách và viết số tiền sau khi đã phát tiền;

– Không phải là người trực tiếp phát tiền mà lại ký vào chỗ người phát tiền.

* Rút kinh nghiệm từ những việc làm trên tôi xin hứa sẽ không bao giờ lặp lại những việc làm đó dù lãnh đạo có trực tiếp yêu cầu chỉ đạo. Mong các cơ quan cấp trên xem xét và tạo điều kiện giúp đỡ tôi. Tôi xin chân thành cảm ơn.

Tôi xin cam đoan lời khai trên của tôi là đúng sự thật./

…………….., ngày …………. tháng ………. năm 20………..

Người viết tường trình

———————————————

THAM KHẢO DỊCH VỤ PHÁP LUẬT LIÊN QUAN:

1. Dịch vụ luật sư, tư vấn pháp luật;
2. Luật sư tư vấn pháp luật hình sự;
3. Dịch vụ luật sư bào chữa tại tòa án;
4. Luật sư tranh tụng các vụ án hình sự;
5. Luật sư tư vấn thu hồi nợ cho doanh nghiệp;
6. Luật sư tư vấn, tranh tụng trong lĩnh vực hình sự;

2. Viết giấy bãi nại cần sự có mặt của công an ?

Xin chào Luật sư! Em có câu hỏi mong được Luật sư giải đáp. Vào ngày 17/06/2015 em điều khiển xe máy chạy khoảng 60km/h và đi vào làn đường xe tải (đầy đủ giấy phép lái xe, bảo hiểm và cà vẹt) bất ngờ tông vào 2 mẹ con đang qua đường, người mẹ bị gãy chân và đã được mổ, đang hồi phục, còn đứa con 9 tháng tuổi bị mất ngay sau đó.

Bên gia đình đó muốn gia đình em bồi thường 40 triệu đồng cho em bé đã mất (cả chi phí đám ma) và 30 triệu đồng cho người mẹ. Họ nói gia đình em đưa đủ 70 triệu đồng sẽ viết giấy bãi nại. Luật sư cho em hỏi: Khi viết giấy bãi nại chỉ cần 2 bên gia đình hay cần có sự có mặt của công an lúc viết, và nội dung giấy bãi nại viết như thế nào? Nếu được bãi nại thì em phải chịu hình phạt từ pháp luật như thế nào?

Em xin chân thành cảm ơn!

>> Luật sư tư vấn Luật Hình sự về bãi nại, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Theo quy đinh của pháp luật hiện nay thì việc viết đơn bãi nại được hiểu là rút lại yêu cầu khởi tố, bãi bỏ việc khiếu nại, là mẫu đơn mà người bị hại (hoặc nạn nhân) thường được sử dụng trong các vụ án dân sự, tai nạn giao thông. Luật sư tư vấn và giải đáp một số trường hợp cụ thể:

Về việc viết đơn bãi nại thì không cần thiết phải có mặt của công an.

Bạn có thể tham khảo mẫu đơn tại đây.

Về hành vi của bạn có thể sẽ bị xem xét xử lý về tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ theo quy định tại Điều 260 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi 2017:

“Điều 260. Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ

1. Người nào tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho người khác thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
a) Làm chết người;
b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 01 người mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên;
c) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 61% đến 121%;
d) Gây thiệt hại về tài sản từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm:
a) Không có giấy phép lái xe theo quy định;
b) Trong tình trạng có sử dụng rượu, bia mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá mức quy định, có sử dụng chất ma túy hoặc chất kích thích mạnh khác;
c) Bỏ chạy để trốn tránh trách nhiệm hoặc cố ý không cứu giúp người bị nạn;
d) Không chấp hành hiệu lệnh của người điều khiển hoặc hướng dẫn giao thông;
đ) Làm chết 02 người;
e) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 122% đến 200%;
g) Gây thiệt hại về tài sản từ 500.000.000 đồng đến dưới 1.500.000.000 đồng.
3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:
a) Làm chết 03 người trở lên;
b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 03 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này 201% trở lên;
c) Gây thiệt hại về tài sản 1.500.000.000 đồng trở lên.
4. Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ trong trường hợp có khả năng thực tế dẫn đến hậu quả quy định tại một trong các điểm a, b và c khoản 3 Điều này nếu không được ngăn chặn kịp thời, thì bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 01 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm.
5. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.”

Trường hợp phía người bị hại có làm đơn bãi nại cho bạn thì bạn có thể được tòa án coi đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi 2017, cụ thể:

“Điều 51. Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự
1. Các tình tiết sau đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
a) Người phạm tội đã ngăn chặn hoặc làm giảm bớt tác hại của tội phạm;
b) Người phạm tội tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại hoặc khắc phục hậu quả;
c) Phạm tội trong trường hợp vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng;
d) Phạm tội trong trường hợp vượt quá yêu cầu của tình thế cấp thiết;
đ) Phạm tội trong trường hợp vượt quá mức cần thiết khi bắt giữ người phạm tội;
e) Phạm tội trong trường hợp bị kích động về tinh thần do hành vi trái pháp luật của nạn nhân gây ra;
g) Phạm tội vì hoàn cảnh đặc biệt khó khăn mà không phải do mình tự gây ra;
h) Phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại hoặc gây thiệt hại không lớn;
i) Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng;
k) Phạm tội vì bị người khác đe doạ hoặc cưỡng bức;
l) Phạm tội trong trường hợp bị hạn chế khả năng nhận thức mà không phải do lỗi của mình gây ra;
m) Phạm tội do lạc hậu;
n) Người phạm tội là phụ nữ có thai;
o) Người phạm tội là người đủ 70 tuổi trở lên;
p) Người phạm tội là người khuyết tật nặng hoặc khuyết tật đặc biệt nặng;
q) Người phạm tội là người có bệnh bị hạn chế khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình;
r) Người phạm tội tự thú;
s) Người phạm tội thành khẩn khai báo hoặc ăn năn hối cải;
t) Người phạm tội tích cực giúp đỡ các cơ quan có trách nhiệm phát hiện hoặc điều tra tội phạm;
u) Người phạm tội đã lập công chuộc tội;
v) Người phạm tội là người có thành tích xuất sắc trong sản xuất, chiến đấu, học tập hoặc công tác;
x) Người phạm tội là cha, mẹ, vợ, chồng, con của liệt sĩ, người có công với cách mạng.
2. Khi quyết định hình phạt, Tòa án có thể coi đầu thú hoặc tình tiết khác là tình tiết giảm nhẹ, nhưng phải ghi rõ lý do giảm nhẹ trong bản án.
3. Các tình tiết giảm nhẹ đã được Bộ luật này quy định là dấu hiệu định tội hoặc định khung thì không được coi là tình tiết giảm nhẹ trong khi quyết định hình phạt.”

Để được giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, bạn cần phải có ít nhất 02 tình tiết giảm nhẹ theo quy định nêu trên. Nếu đáp ứng được điều kiện này thì trách nhiệm hình sự của bạn sẽ được giải quyết như sau:

“Điều 54. Quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng
1. Tòa án có thể quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng nhưng phải trong khung hình phạt liền kề nhẹ hơn của điều luật khi người phạm tội có ít nhất hai tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 của Bộ luật này.”

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của quý khách hàng. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật về hình sự và thông tin do quý khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra nội dung tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo.

3. Quy định về tội Trộm cắp tài sản theo luật hiện hành

Thưa luật sư, em có ở ghép với một bạn, trước khi em dọn đi, có để lại một số món đồ, gồm laptop, quần áo, vật dụng cá nhân, và sổ hộ khẩu. Bạn cũng dọn chuyển đi nơi khác, em liên lạc để lấy đồ không được, đến nay liên lạc với người thân bạn thì bạn mới trả lời và nói số tài sản trên bạn không nắm giữ và nói vất đi của em hết rồi, và khai không biết em có laptop dù có nhân chứng biết bạn ấy biết em có laptop và sổ hộ khẩu của em nằm trong túi laptop. Không có thể nào bạn ấy nói không biết. Rồi bạn ấy nói cầm sổ hộ khẩu của em vì lúc dọn nhà nó ở bên ngoài. Mặc dù em để sổ hộ khẩu bên trong túi laptop. Bạn ấy không muốn trả đồ cho em. Chỉ muốn trả lại sổ hộ khẩu và miễn hết trách nhiệm. Vậy em có thể làm gì với tội danh này khi trình báo. Và việc định giá tài sản như thế nào?

Trả lời:

Việc định tội danh với hành vi này không hề dễ dàng. Theo đó, bạn cần chứng minh về việc tài sản của bạn có để lại phòng khi bạn không ở đó. Bạn cần có căn cứ cho việc bạn ấy lấy tài sản của bạn bởi người bạn này không phải là người được bạn ủy quyền quản lý tài sản trên. Nếu chứng minh những yếu tố trên, hành vi của người bạn này có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 173 Bộ Luật Hình sự 2015 sửa đổi 2017.

Chủ thể thực hiện tội phạm:
Theo Điều 12 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi bổ sung 2017 quy định về tuổi chịu trách nhiệm hình sự:
“1. Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm, trừ những tội phạm mà Bộ luật này có quy định khác.
2. Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng quy định tại một trong các điều 123, 134, 141, 142, 143, 144, 150, 151, 168, 169, 170, 171, 173, 178, 248, 249, 250, 251, 252, 265, 266, 286, 287, 289, 290, 299, 303 và 304 của Bộ luật này.”
Khách thể của tội phạm:
Tội này xâm phạm đến quan hệ sở hữu.
Nếu sau khi chiếm đoạt tài sản, người phạm tội bị đuổi bắt có hành vi chống trả để tẩu thoát gây chết hoặc làm bị thương người khác thì có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội khác.
Mặt khách quan của tội phạm:
Hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác; lợi dụng sự sơ hở, mất cảnh giác của chủ sở hữu, người quản lý tài sản, hoặc lợi dụng hoàn cảnh mà người quản lý tài sản không biết.
Có hậu quả xảy ra là tài sản bị chiếm đoạt thuộc một trong các trường hợp:
– Với những tài sản to lớn, cồng kềnh, người phạm tội phải chuyển được tài sản đó ra khỏi phạm vi cất giữ;
– Với tài sản không có nơi cất giữ riêng, người phạm tội phải đưa tài sản đó ra khỏi địa bàn (địa điểm phạm tội) thì mới hoàn thành;
– Ngoại lệ: tài sản từ 2 triệu đồng trở lên, nếu có giá trị rất lớn như ô tô, xe máy, máy tính… thì dù người phạm tội chưa chiếm đoạt được tài sản thì vẫn bị coi là phạm tội.
Mặt chủ quan của tội phạm:
Tội phạm này được thực hiện bởi lỗi cố ý.
Mục đích của người phạm tội nhằm chiếm đoạt tài sản.

“Điều 173. Tội trộm cắp tài sản

1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm;
b) Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 174, 175 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;
c) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;
d) Tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ;
đ) Tài sản là di vật, cổ vật”

4. Tiêu thụ tài sản người khác phạm tội gì ?

Kính gửi luật sư! Tôi có bị mất 1 cái điện thoại di động và qua mạng tôi đã tìm thấy nó.tôi đã cùng công an đến xác minh đó là tài sản của tôi.chủ quán nói có 1 đối tượng cắm với giá 2.800.000vnđ.sau đó công an bảo tôi về có gì thì sẽ liên lạc sau được khoảng mấy ngày sau thì công an liên lạc bảo lên làm thủ tục nhận lại điện thoại.làm xong công an bảo tôi mấy ngày sau đến lấy lại điện thoại và cầm theo 2.800.000vnđ để bồi thường cho chủ quán cắm đó.vậy xin hỏi luận sư theo pháp luật thì số tiền đó tôi phải chịu có đúng không ?

Trả lời:

Trách nhiệm hình sự được đặt ra đối với cá nhân đã lấy tài sản của bạn để cầm cố theo quy định tại Điều 323 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi 2017 như sau:

Điều 323. Tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có

1. Người nào không hứa hẹn trước mà chứa chấp, tiêu thụ tài sản biết rõ là do người khác phạm tội mà có, thì bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm:

a) Có tổ chức;

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

c) Tài sản, vật phạm pháp trị giá từ 100.000.000 đồng đến dưới 300.000.000 đồng;

d) Thu lợi bất chính từ 20.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng;

đ) Tái phạm nguy hiểm.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 10 năm:

a) Tài sản, vật phạm pháp trị giá từ 300.000.000 đồng đến dưới 1.000.000.000 đồng;

b) Thu lợi bất chính từ 100.000.000 đồng đến dưới 300.000.000 đồng.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 10 năm đến 15 năm:

a) Tài sản, vật phạm pháp trị giá 1.000.000.000 đồng trở lên;

b) Thu lợi bất chính 300.000.000 đồng trở lên.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.”

Số tiền 2.800.000vnđ không được xác định là vật chứng theo quy định tại Điều 89 Bộ luật tố tụng Hình sự 2015 như sau:

Điều 89. Vật chứng
Vật chứng là vật được dùng làm công cụ, phương tiện phạm tội, vật mang dấu vết tội phạm, vật là đối tượng của tội phạm, tiền hoặc vật khác có giá trị chứng minh tội phạm và người phạm tội hoặc có ý nghĩa trong việc giải quyết vụ án

Theo đó, bạn không phải là chủ thể chịu trách nhiệm bồi thường cho chủ tiệm cầm đồ vì bạn không có lỗi với thiệt hại trên

Thưa luật sư, Cho em hỏi em bị giật túi xách đã bắt được thủ phạm công an quận đang giam giữ nhưng số tài sản lấy của em nó không có khả năng đền bù thì em có cách nào để lấy được lại số tiền đã bị mất không ạ, em bị mất 40tr nó khai nhận lấy và sẽ hoàn trả em nhưng rồi chờ mãi nó cũng không có tiền để hoàn trả em. Cho em xin tư vấn để em lấy lại được số tiền bị mất với ạ. Em xin cảm ơn ạ!

Vấn đề bồi thường thiệt hại trong vụ án hình sự được quy định tại Điều 30 Bộ luật tố tụng Hình Sự 2015 như sau:

“Điều 30. Giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự
Việc giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự được tiến hành cùng với việc giải quyết vụ án hình sự. Trường hợp vụ án hình sự phải giải quyết vấn đề bồi thường thiệt hại, bồi hoàn mà chưa có điều kiện chứng minh và không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án hình sự thì vấn đề dân sự có thể tách ra để giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự.”

Theo đó, nếu được giải quyết cùng vụ án hình sự, mà người phạm tội không có khả năng trả nợ thì được xử lý theo quy định tại Điều 128 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015 như sau:

“Điều 128. Kê biên tài sản
1. Kê biên tài sản chỉ áp dụng đối với bị can, bị cáo về tội mà Bộ luật hình sự quy định hình phạt tiền hoặc có thể bị tịch thu tài sản hoặc để bảo đảm bồi thường thiệt hại.
2. Những người có thẩm quyền quy định tại khoản 1 Điều 113 của Bộ luật này, Thẩm phán chủ tọa phiên tòa có quyền ra lệnh kê biên tài sản. Lệnh kê biên của những người được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 113 của Bộ luật này phải được thông báo ngay cho Viện kiểm sát cùng cấp trước khi thi hành.
3. Chỉ kê biên phần tài sản tương ứng với mức có thể bị phạt tiền, bị tịch thu hoặc phải bồi thường thiệt hại. Tài sản bị kê biên được giao cho chủ tài sản hoặc người quản lý hợp pháp hoặc người thân thích của họ bảo quản. Người được giao bảo quản mà có hành vi tiêu dùng, chuyển nhượng, đánh tráo, cất giấu, hủy hoại tài sản bị kê biên thì phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định của Bộ luật hình sự.
4. Khi tiến hành kê biên tài sản phải có mặt những người:
a) Bị can, bị cáo hoặc người đủ 18 tuổi trở lên trong gia đình hoặc người đại diện của bị can, bị cáo;
b) Đại diện chính quyền xã, phường, thị trấn nơi có tài sản bị kê biên;
c) Người chứng kiến.
Người tiến hành kê biên phải lập biên bản, ghi rõ tên và tình trạng từng tài sản bị kê biên. Biên bản được lập theo quy định tại Điều 178 của Bộ luật này, đọc cho những người có mặt nghe và cùng ký tên. Ý kiến, khiếu nại của những người quy định tại điểm a khoản này liên quan đến việc kê biên được ghi vào biên bản, có chữ ký xác nhận của họ và của người tiến hành kê biên.
Biên bản kê biên được lập thành bốn bản, trong đó một bản được giao ngay cho người được quy định tại điểm a khoản này sau khi kê biên xong, một bản giao ngay cho chính quyền xã, phường, thị trấn nơi có tài sản bị kê biên, một bản gửi cho Viện kiểm sát cùng cấp và một bản đưa vào hồ sơ vụ án.”

5. Chủ đại lý tự kênh giá bán lời phạm tội gì?

Thưa luật sư, Tôi làm ở 1 công ty vật tư, hiện tại tôi quản lý trên 20 đại lý. Tôi có sử dụng tiền của các đại lý đó để đầu tư kinh doanh. Ví dụ tôi tự kênh giá bán cho các đại lý và sử dụng tiền của các đại lý thanh toán cho công ty vào mục đích kinh doanh riêng của mình. Hiện số tiền tôi đang sử dụng và chưa nộp về công ty khoảng 170 triệu. Hiện giờ công ty tôi đang định kiện tôi ra toà vì tội chiếm dụng tài sản và lạm dụng chức vụ.

Xin hỏi luật sư nếu tôi hoàn trả lại đủ số tiền cho công ty thì tôi có bị sao không và nếu tôi sử dụng tiền đó vào mục đích kinh doanh nhưng bị thua lỗ chưa có khả năng hoàn trả thì tôi sẽ bị xử lý như nào ?

Xin luật sư giúp đỡ.

Trả lời:

Việc tự nâng giá hàng hóa trong khi thực hiện nhiệm vụ được giao trong kinh doanh và sử dụng cho mục đích riêng của cá nhân đã cấu thành tội lạm dụng tín nhiệm tài sản. Với số tiền chiếm đoạt là 170 triệu, hành vi của bạn bị truy cứu hình sự theo quy định tại khoản

Điều 175. Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản…

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

a) Có tổ chức;

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

c) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng; d) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức; đ) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;

e) Tái phạm nguy hiểm.”

Nếu bạn tự nguyện trả lại tài sản này thì trách nhiệm hình sự không thay đổi nhưng sẽ được coi là tình tiết giảm nhẹ trong quá trình quyết định hình phạt

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc liên hệ văn phòng để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

6. Quan hệ tình dục với người dưới 16 tuổi phạm tội gì ?

Xin chào luật sư, hiện tại em của em đang học lớp 9, bị bạn bè lôi kéo nên sa đà vào yêu đương 1 em lớp 12 (18 tuổi). 2 đứa có hành vi quan hệ với nhau, tuy nhiên có sự đồng ý của cả 2 vì chúng yêu nhau. Em có đọc qua luật thì biết được nếu có hành vi giao cấu với trẻ dưới 16 tuổi sẽ bị từ 1-5 năm tù đúng không ạ? Trong trường hợp của em em, không bị ép buộc thì có kiện được không ạ?

Em xin cảm ơn Luật sư.

Trả lời:

Đối với trường hợp của bạn, em của bạn học lớp 9, tức là 15 tuổi. Bạn trai 18 tuổi, do đó, nếu 2 bên quan hệ tự nguyện thì hành vi của bạn trai kia cấu thành tội Giao cấu với người dưới 16 tuổi theo quy định của điều 145 Bộ luật hình sự. Kể cả không có sự ép buộc, thì cũng vẫn bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

“Điều 145. Tội giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi

1. Người nào đủ 18 tuổi trở lên mà giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi, nếu không thuộc trường hợp quy định tại Điều 142 và Điều 144 của Bộ luật này, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm:
a) Phạm tội 02 lần trở lên;
b) Đối với 02 người trở lên;
c) Có tính chất loạn luân;
d) Làm nạn nhân có thai;
đ) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%;
e) Đối với người mà người phạm tội có trách nhiệm chăm sóc, giáo dục, chữa bệnh.
3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:
a) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên;
b) Biết mình bị nhiễm HIV mà vẫn phạm tội.
4. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.”

Trân trọng./.

7. Loạn luân với cháu gái, hình phạt thế nào ?

Thưa luật sư, em có một tình huống muốn được tư vấn ạ: A (tròn 17 tuổi), quen biết và đặt vấn đề yêu đương với N ( 15 tuổi 2 tháng). A mời N đi chơi và cùng nhau vào nhà nghỉ thực hiện hành vi giao cấu với nhau. Gia đình N phát hiện vụ việc đã khuyên can nhưng hai bên vẫn không chịu nghe lời. Một năm sau, A trên 18 tuổi và N vẫn tiếp tục yêu nhau, đồng thời đã có hai lần giao cấu với nhau. Một thời gian sau N từ chối yêu A và làm quen với anh Y. A đã gặp Y khuyên can chuyện Y yêu N nhưng Y không nghe và đã xảy ra xô xát. A dùng chân đá vào bụng Y gây tổn hại cho sức khỏe của Y. Theo kết quả giám định Y bị tổn hại 9 % về sức khỏe. *Câu hỏi:* a. Bà D là mẹ của A đến hỏi: “ hành vi của con tôi (A) có bị coi là tội phạm không? (2 điểm) b. Nếu bà D nói công an Phường đang tạm giữ A thì anh, chị tư vấn và làm những việc gì giúp cho con của bà D? (1 điểm) c. Nếu Bà Q mẹ của N nói rằng A và N đang là anh em con chú con bác trong họ nội nên đề nghị cơ quan pháp luật xử lí A về tội loạn luân thì anh, chị tư vấn cho bà Q như thế nào? (2 điểm) d. Bà mẹ Y đến tư vấn để có thể làm các thủ tục cần thiết nhằm đề nghị cơ quan pháp luật truy tố A về tội cố ý gây thương tích thì anh chị tư vấn như thế nào đối với bà Y? (2 điểm) * em rất mong nhận được thư trả lời, em xin cảm ơn!

Trả lời:

a. Hành vi của A cần phân tích dưới các góc độ:

– Thời điểm quan hệ lần đầu: A 17 tuổi, quan hệ với N khi N 15 tuổi 2 tháng, do đó A không phạm tội.

– Một năm sau: A 18 tuổi, quan hệ với N khi N 16 tuổi 2 tháng. Nếu việc quan hệ là thuận tình, thì A không bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

– Đối với hành vi cố ý gây thương tích: nếu thương tích là 9%, và không thuộc trong các trường hợp thuộc khoản 1, điều 134 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi bổ sung 2017 thì A không phải chịu trách nhiệm hình sự:

“Điều 134. Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác
1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
a) Dùng vũ khí, vật liệu nổ, hung khí nguy hiểm hoặc thủ đoạn có khả năng gây nguy hại cho nhiều người;
b) Dùng a-xít nguy hiểm hoặc hóa chất nguy hiểm;
c) Đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu, ốm đau hoặc người khác không có khả năng tự vệ;
d) Đối với ông, bà, cha, mẹ, thầy giáo, cô giáo của mình, người nuôi dưỡng, chữa bệnh cho mình;
đ) Có tổ chức;
e) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;
g) Trong thời gian đang bị giữ, tạm giữ, tạm giam, đang chấp hành án phạt tù, đang chấp hành biện pháp tư pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng hoặc đang chấp hành biện pháp xử lý vi phạm hành chính đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, đưa vào trường giáo dưỡng hoặc đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc;
h) Thuê gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do được thuê;
i) Có tính chất côn đồ;
k) Đối với người đang thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 06 năm:
a) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%;
b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 11% đến 30%;
c) Phạm tội 02 lần trở lên;
d) Tái phạm nguy hiểm;
đ) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này.
3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm:
a) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên, nếu không thuộc trường hợp quy định tại điểm b khoản 4 Điều này;
b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 31% đến 60%;
c) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này;
d) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 11% đến 30% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này.
4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 14 năm:
a) Làm chết người;
b) Gây thương tích làm biến dạng vùng mặt của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên;
c) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 61% trở lên;
d) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này;
đ) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 31% đến 60% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này.
5. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân:
a) Làm chết 02 người trở lên;
b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 61% trở lên nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này.
6. Người nào chuẩn bị vũ khí, vật liệu nổ, hung khí nguy hiểm, a-xít nguy hiểm, hóa chất nguy hiểm hoặc thành lập hoặc tham gia nhóm tội phạm nhằm gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm.”.

Nếu thuộc các trường hợp quy định tại khoản 1, điều 134 Bộ luật hình sự thì A có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về Tội cố ý gây thương tích.

b. Để giúp con của bà D cần hướng dẫn bà D những nội dung sau:

– Thu thập bằng chứng hoặc hướng dẫn bà D thu thập bằng chứng A không thuộc trường hợp theo quy định tại khoản 1, điều 134 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi 2017.

– Hướng dẫn về thời gian tạm giữ tối đa và hậu quả pháp lý sau khi hết thời gian tạm giữ.

c. Nếu bà Q, mẹ của N nói N và A là anh em con chú, con bác nên đề nghị xử lý về tội loạn luân theo quy định tại Điều 184 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi 2017:

“Điều 184. Tội loạn luân
Người nào giao cấu với người mà biết rõ người đó cùng dòng máu về trực hệ, là anh chị em cùng cha mẹ, anh chị em cùng cha khác mẹ hoặc cùng mẹ khác cha, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.”

Thông tư liên tịch 01/2001/TTLT-BTP-BCA-TANDTC-VKSNDTC hướng dẫn như sau về tội loạn luân:

“6. Về tội loạn luân (Điều 150 BLHS)

6.1. Loạn luân là việc giao cấu giữa cha, mẹ với con; giữa ông, bà với cháu nội, cháu ngoại; giữa anh chị em cùng cha mẹ; giữa anh chị em cùng cha khác mẹ hoặc cùng mẹ khác cha.

6.2. Để truy cứu trách nhiệm hình sự về tội loạn luân cần phải xác định rõ hành vi giao cấu là thuận tình, không có dấu hiệu dùng vũ lực hoặc cưỡng ép và được thực hiện với người từ đủ 16 tuổi trở lên. Trong trường hợp tuy hành vi giao cấu giữa những người nói trên là thuận tình, nhưng nếu hành vi đó được thực hiện đối với trẻ em từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi, thì không truy cứu trách nhiệm hình sự về tội loạn luân mà phải truy cứu trách nhiệm hình sự về tội giao cấu với trẻ em (điểm c khoản 2 Điều 115 BLHS).

Trong trường hợp hành vi loạn luân kèm theo dấu hiệu dùng vũ lực, đe đoạ dùng vũ lực, lợi dụng tình trạng không thể tự vệ được của nạn nhân hoặc thủ đoạn khác, thì tuỳ trường hợp người thực hiện hành vi đó phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội hiếp dâm hoặc tội hiếp dâm trẻ em ;nếu hành vi loạn luân kèm theo dấu hiệu lợi dụng quan hệ lệ thuộc khiến bên kia phải miễn cưỡng cho giao cấu, thì tuỳ trường hợp người thực hiện hành vi đó phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội cưỡng dâm hoặc tội cưỡng dâm trẻ em ; trong mọi trường hợp hành vi loạn luân được thực hiện đối với trẻ em dưới 13 tuổi, thì người thực hiện hành vi loạn luân phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội hiếp dâm trẻ em.

Như vậy, nếu A và N là anh em con chú, con bác mà quan hệ với nhau thì cũng không phạm tội loạn luân.

d. Bà Y đến tư vấn để làm các thủ tục đề nghị cơ quan pháp luật truy tố về hành vi cố ý gây thương tích thì cần làm rõ: Nếu đủ căn cứ để khởi tố theo khoản 1, điều 104 BLHS thì hướng dẫn bà Y làm đơn tố cáo. Nếu không đủ căn cứ thì hướng dẫn bà Y khởi kiện ra tòa đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng do đã xâm phạm đến sức khỏe của N.

Thưa luật sư, Theo tìm hiểu: Một người chủ động dùng bộ phận sinh dục của mình tiếp xúc với các bộ phận khác trên cơ thể của đối phương, bất kể là đồng giới hay khác giới là khái niệm của hành vi giao cấu. Vậy luật sư cho hỏi : Với trường hợp cả 2 bên tự nguyện Nam giới trên 18 tuổi không dùng bộ phận sinh dục của mình ( nhưng dùng tay hoặc miệng) tiếp xúc với bộ phận sinh dục trên cơ thể của Nữ giới từ đủ 13 đến dưới 16 tuổi có phạm tội không ? Nữ giới từ đủ 13 đến dưới 16 tuổi dùng tay hoặc miệng tiếp xúc với bộ phận sinh dục của Nam giới trên 18 tuổi thì Nam giới có phạm tội không ?

>> Nếu người nào không dùng bộ phận sinh dục mà dùng tay hoặc miệng tiếp xúc với bộ phận sinh dục trên cơ thể của nữ giới/nam giới dưới 16 tuổi thì người này có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội Dâm ô đối với trẻ em theo quy định tại điều 116 của Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi 2017. Bởi vì đối với tội này, chủ thể: có thể là nam hoặc nữ; về hành vi khách quan là hành vi của người đã thành niên dùng mọi thủ đoạn có tính chất loạn dâm dục đối với người dưới 16 tuổi nhằm thỏa mãn dục vọng của mình nhưng không có ý định giao cấu với nạn nhân; nạn nhân là trẻ em từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc liên hệ văn phòng để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật hình sự – Công ty luật minh Khuê