Mục lục bài viết

  • 1. Tư vấn về mức hình phạt đối với tội ghi lô đề trái phép ?
  • 2. Mức án nào cho tội ghi số lô đề ?
  • 3. Xử phạt chuyển lô đề ?
  • 4. Chồng vay tiền đánh lô đề thì vợ có phải trả không ?
  • 5. Ghi lô đề sẽ bị xử phạt như thế nào ?

1. Tư vấn về mức hình phạt đối với tội ghi lô đề trái phép ?

Kính chào Luật Minh Khuê, Tôi có một vấn đề mong các luật sư giải đáp: Tôi có chị gái năm nay 40 tuổi. Hiện nay không có chồng nuôi 2 con. Một 14 tuổi, một hơn 3 tuổi. Điều kiện kinh tế rất khó khăn không có nghề nghiệp. Do có người lôi kéo nên đã tham gia làm thư ký đề và bị công an bắt. Theo cáo trạng chị tôi ghi đề khoảng 8 ngày số tiền tổng cộng là 15 triệu đã trả cho người chơi 14 triệu.

Ngoài tội trên chị tôi không vi phạm gì khác. Tòa sơ thẩm xử chị tôi 6 tháng tù và thu 1 triệu tiền thu lời bất chính. Vậy xin hỏi mức đó có nặng quá không và có thể kháng án xin giảm nhẹ thành án treo được không ? Tôi xin chân thành cảm ơn!

Người gửi: T.M

Tư vấn về mức hình phạt đối với tội ghi lô đề trái phép ?

Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua điện thoại gọi: 1900.6162

Trả lời:

– Về căn cứ quyết định phạt: theo quy định tại Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi 2017 thì:Khi quyết định hình phạt, Tòa án căn cứ vào quy định của Bộ luật này, cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự.Khi quyết định áp dụng hình phạt tiền, ngoài căn cứ quy định trên thì tòa án căn cứ vào tình hình tài sản, khả năng thi hành của người phạm tội.

– Về các tình tiết giảm nhẹ:

Các tình tiết sau đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:Người phạm tội đã ngăn chặn hoặc làm giảm bớt tác hại của tội phạm;Người phạm tội tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại hoặc khắc phục hậu quả;Phạm tội trong trường hợp vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng;Phạm tội trong trường hợp vượt quá yêu cầu của tình thế cấp thiết;Phạm tội trong trường hợp vượt quá mức cần thiết khi bắt giữ người phạm tội;Phạm tội trong trường hợp bị kích động về tinh thần do hành vi trái pháp luật của nạn nhân gây ra;Phạm tội vì hoàn cảnh đặc biệt khó khăn mà không phải do mình tự gây ra;Phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại hoặc gây thiệt hại không lớn;Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng;Phạm tội vì bị người khác đe dọa hoặc cưỡng bức;Phạm tội trong trường hợp bị hạn chế khả năng nhận thức mà không phải do lỗi của mình gây ra;Phạm tội do lạc hậu;Người phạm tội là phụ nữ có thai;Người phạm tội là người đủ 70 tuổi trở lên;Người phạm tội là người khuyết tật nặng hoặc khuyết tật đặc biệt nặng;Người phạm tội là người có bệnh bị hạn chế khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình;Người phạm tội tự thú;Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải;Người phạm tội tích cực hợp tác với cơ quan có trách nhiệm trong việc phát hiện tội phạm hoặc trong quá trình giải quyết vụ án;”;Người phạm tội đã lập công chuộc tội;Người phạm tội là người có thành tích xuất sắc trong sản xuất, chiến đấu, học tập hoặc công tác;Người phạm tội là người có công với cách mạng hoặc là cha, mẹ, vợ, chồng, con của liệt sĩ..
Khi quyết định hình phạt, Tòa án có thể coi đầu thú hoặc tình tiết khác là tình tiết giảm nhẹ, nhưng phải ghi rõ lý do giảm nhẹ trong bản án.Các tình tiết giảm nhẹ đã được Bộ luật này quy định là dấu hiệu định tội hoặc định khung thì không được coi là tình tiết giảm nhẹ trong khi quyết định hình phạt.

– Về quyền kháng cáo: Thời hạn kháng cáo đối với bản án sơ thẩm là 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với bị cáo, đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày họ nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.Thời hạn kháng cáo đối với quyết định sơ thẩm là 07 ngày kể từ ngày người có quyền kháng cáo nhận được quyết định.

Ngày kháng cáo được xác định như sau:Trường hợp đơn kháng cáo gửi qua dịch vụ bưu chính thì ngày kháng cáo là ngày theo dấu bưu chính nơi gửi;Trường hợp đơn kháng cáo gửi qua Giám thị Trại tạm giam, Trưởng Nhà tạm giữ thì ngày kháng cáo là ngày Giám thị Trại tạm giam, Trưởng Nhà tạm giữ nhận được đơn. Giám thị Trại tạm giam, Trưởng Nhà tạm giữ phải ghi rõ ngày nhận đơn và ký xác nhận vào đơn;Trường hợp người kháng cáo nộp đơn kháng cáo tại Tòa án thì ngày kháng cáo là ngày Tòa án nhận đơn. Trường hợp người kháng cáo trình bày trực tiếp với Tòa án thì ngày kháng cáo là ngày Tòa án lập biên bản về việc kháng cáo.

>&gt Xem thêm:  Tư vấn việc việc ghi đề có bị truy cứu trách nhiệm hình sự không?

2. Mức án nào cho tội ghi số lô đề ?

Thưa luật sư, Cho em hỏi vd: em ghi số đề được khoảng 4 tháng và bị bắt, lúc bị bắt tang chứng là một phơi ghi đề giá 1 triệu và em đã khai ghi được 4 tháng, vậy luật sư cho em hỏi công an có cộng số tiền 4 tháng đó ra thành tội không ạ. Nhưng lúc bi bắt thì chỉ có phơi đề 1 triệu thôi ạ ? xin cảm ơn luật sư rất nhiều ạ.
– Nguyen Phuoc Trung

Luật sư trả lời:

Điều 26 của Nghị định số 167/2013/NĐ-CP quy định về Hành vi đánh bạc trái phép như sau:

“1. Phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 200.000 đồng đến 500.000 đồng đối với hành vi mua các số lô, số đề.2. Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng đối với một trong những hành vi đánh bạc sau đây: a) Đánh bạc trái phép bằng một trong các hình thức như xóc đĩa, tá lả, tổ tôm, tú lơ khơ, tam cúc, 3 cây, tứ sắc, đỏ đen, cờ thế hoặc các hình thức khác mà được, thua bằng tiền, hiện vật; b) Đánh bạc bằng máy, trò chơi điện tử trái phép; c) Cá cược bằng tiền hoặc dưới các hình thức khác trong hoạt động thi đấu thể thao, vui chơi giải trí, các hoạt động khác; d) Bán bảng đề, ấn phẩm khác cho việc đánh lô, đề.3. Phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây: a) Nhận gửi tiền, cầm đồ, cho vay tại sòng bạc, nơi đánh bạc khác; b) Che giấu việc đánh bạc trái phép.4. Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với một trong những hành vi tổ chức đánh bạc sau đây: a) Rủ rê, lôi kéo, tụ tập người khác để đánh bạc trái phép; b) Dùng nhà, chỗ ở của mình hoặc phương tiện, địa điểm khác để chứa bạc; c) Đặt máy đánh bạc, trò chơi điện tử trái phép; d) Tổ chức hoạt động cá cược ăn tiền trái phép.5. Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với một trong những hành vi tổ chức đánh đề sau đây: a) Làm chủ lô, đề; b) Tổ chức sản xuất, phát hành bảng đề, ấn phẩm khác cho việc đánh lô, đề; c) Tổ chức mạng lưới bán số lô, số đề; d) Tổ chức cá cược trong hoạt động thi đấu thể dục thể thao, vui chơi giải trí hoặc dưới các hoạt động khác để đánh bạc, ăn tiền.6. Hình thức xử phạt bổ sung:Tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính và tịch thu tiền do vi phạm hành chính mà có đối với hành vi quy định tại Khoản 1; Khoản 2; Điểm a Khoản 3; Điểm b, c, d Khoản 4 và Khoản 5 Điều này.7. Người nước ngoài có hành vi vi phạm hành chính quy định tại Khoản 1, 2, 3, 4 và Khoản 5 Điều này, thì tùy theo mức độ vi phạm có thể bị áp dụng hình thức xử phạt trục xuất khỏi nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.”

– Điều 322 của Bộ Luật hình sự 2015 sửa đổi bổ sung 2017 quy định về tội tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc như sau:

1. Người nào tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc trái phép thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 300.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

a) Tổ chức cho 10 người đánh bạc trở lên trong cùng một lúc mà tổng số tiền, hiện vật dùng đánh bạc trị giá 5.000.000 đồng trở lên hoặc tổ chức 02 chiếu bạc trở lên trong cùng một lúc mà tổng số tiền, hiện vật dùng đánh bạc trị giá 5.000.000 đồng trở lên;

b) Sử dụng địa điểm thuộc quyền sở hữu hoặc quản lý của mình để cho 10 người đánh bạc trở lên trong cùng một lúc mà tổng số tiền, hiện vật dùng đánh bạc trị giá 5.000.000 đồng trở lên hoặc cho 02 chiếu bạc trở lên trong cùng một lúc mà tổng số tiền, hiện vật dùng đánh bạc trị giá 5.000.000 đồng trở lên;

c) Tổng số tiền, hiện vật dùng đánh bạc trong cùng 01 lần trị giá 20.000.000 đồng trở lên;

d) Có tổ chức nơi cầm cố tài sản cho người tham gia đánh bạc; có lắp đặt trang thiết bị phục vụ cho việc đánh bạc hoặc phân công người canh gác, người phục vụ khi đánh bạc; sắp đặt lối thoát khi bị vây bắt, sử dụng phương tiện để trợ giúp cho việc đánh bạc;

đ) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về một trong các hành vi quy định tại Điều này hoặc hành vi quy định tại Điều 321 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 321 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm.

Như vậy, bạn có thể chỉ bị xử phạt hành chính đối với hành vi tổ chức ghi lô đề với mức xử phạt là từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng. Nếu như bạn đã bị xử phạt hành chính về hành vi này mà vẫn vi phạm hoặc tổ chức với quy mô lớn, hoặc đã bị kết án về một trong các tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến ba trăm triệu đồng hoặc phạt tù từ một năm đến năm năm.

>&gt Xem thêm:  Tư vấn quy định pháp luật về lý lịch tư pháp cá nhân ?

3. Xử phạt chuyển lô đề ?

Chào luật sư, Xin cho hỏi tôi có người em trước đây hơn 1 năm có làm thư ký lô đề được khoảng 1 tháng, nhưng bị khách chơi ko trả số tiền nợ là 450 triệu, và bị chủ lô đề ép em tôi viết 1 giấy vay tiền, và hiện nay đang thuê người đòi nợ số tiền đó của em tôi. Vậy xin luật sư cho biết nếu em tôi ra cơ quan công an trình báo về sự việc như vậy thì sẽ bị phạt như thế nào ? Xin cảm ơn luật sư!

Xử phạt chuyển lô đề ? Làm chủ lô đề - coi chừng “bóc lịch” ?

Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua điện thoại gọi: 1900.6162

Luật sư trả lời:

Trở thành chủ lô, chủ đề là cách làm giàu của không ít người. Dù đã có những chế tài xử phạt nghiêm khắc nhưng nhiều người vẫn muốn làm giàu nhanh bằng con đường ghi lô đề.

Làm chủ lô đề bị phạt đến 20 triệu đồng

Ở nhiều nơi trên cả nước, rất dễ dàng bắt gặp cảnh ghi lô, ghi đề. Tại những điểm bán vé số hay quán nước, những con bạc khát nước hướng sự theo dõi của mình theo những con số. Những chủ lô, chủ đề lại có dịp được làm giàu nhờ những người ham mê trò chơi đỏ đen này.

Pháp luật hiện hành đã có những chế tài hết sức nghiêm khắc dành cho chủ lô, đề.

Khoản 5 Điều 26 Nghị định 167/2013/NĐ-CP của Chính phủ quy định mức phạt tiền từ 10 đến 20 triệu đồng đối với các hành vi:

“a) Làm chủ lô, đề;

b) Tổ chức sản xuất, phát hành bảng đề, ấn phẩm khác cho việc đánh lô, đề;

c) Tổ chức mạng lưới bán số lô, số đề;

d) Tổ chức cá cược trong hoạt động thi đấu thể dục thể thao, vui chơi giải trí hoặc dưới các hoạt động khác để đánh bạc, ăn tiền.”

Chủ lô, đề còn có thể bị đi tù

Không chỉ bị xử lý hành chính, chủ lô đề còn có thể phải chịu trách nhiệm hình sự.

Điều 322 Bộ Luật hình sự 2015 sửa đổi bổ sung 2017 nêu rõ khung hình phạt về Tội tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc:

1. Người nào tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc trái phép thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 300.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

a) Tổ chức cho 10 người đánh bạc trở lên trong cùng một lúc mà tổng số tiền, hiện vật dùng đánh bạc trị giá 5.000.000 đồng trở lên hoặc tổ chức 02 chiếu bạc trở lên trong cùng một lúc mà tổng số tiền, hiện vật dùng đánh bạc trị giá 5.000.000 đồng trở lên;

b) Sử dụng địa điểm thuộc quyền sở hữu hoặc quản lý của mình để cho 10 người đánh bạc trở lên trong cùng một lúc mà tổng số tiền, hiện vật dùng đánh bạc trị giá 5.000.000 đồng trở lên hoặc cho 02 chiếu bạc trở lên trong cùng một lúc mà tổng số tiền, hiện vật dùng đánh bạc trị giá 5.000.000 đồng trở lên;

c) Tổng số tiền, hiện vật dùng đánh bạc trong cùng 01 lần trị giá 20.000.000 đồng trở lên;

d) Có tổ chức nơi cầm cố tài sản cho người tham gia đánh bạc; có lắp đặt trang thiết bị phục vụ cho việc đánh bạc hoặc phân công người canh gác, người phục vụ khi đánh bạc; sắp đặt lối thoát khi bị vây bắt, sử dụng phương tiện để trợ giúp cho việc đánh bạc;

đ) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về một trong các hành vi quy định tại Điều này hoặc hành vi quy định tại Điều 321 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 321 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm:

a) Có tính chất chuyên nghiệp;

b) Thu lợi bất chính 50.000.000 đồng trở lên;

c) Sử dụng mạng internet, mạng máy tính, mạng viễn thông hoặc phương tiện điện tử để phạm tội;

d) Tái phạm nguy hiểm.

3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

Như vậy, nếu thuộc các trường hợp nêu trên, chủ lô, đề có thể bị phạt tiền từ 50 triệu đồng – phạt tù đến 10 năm.

Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ Luật sư tư vấn pháp luật hình sự trực tuyến qua tổng đài điện thoại, gọi số: 1900.6162 để được giải đáp. Trân trọng./

>&gt Xem thêm:  Hình phạt đối với hành vi cung cấp mạng cá độ bóng đá ăn tiền ?

4. Chồng vay tiền đánh lô đề thì vợ có phải trả không ?

Kính gửi công ty Luật Minh Khuê, tôi có một vấn đề thắc mắc mong nhận được sự tư vấn từ Luật sư. Chồng tôi có chơi lô đề và bài bạc và có vay của 3 người số tiền là 30 triệu đồng để chơi lô đề. Tôi không đồng ý cho anh ấy vay tiền chơi nhưng chồng tôi đã nghiện rồi nên không thể dứt ra được. Bây giờ những người kia đến đòi tiền nhưng chồng tôi vì sợ quá nên đã bỏ trốn về quê.

Tôi vẫn phải đi làm ở trên này để kiếm tiền nuôi con nên không về được, giờ những người này đến đòi tôi tiền và nói rằng do chồng tôi vay nên tôi phải có nghĩa vụ trả. Luật sư cho tôi hỏi là họ nói vậy có đúng không ạ, tôi có phải trả khoản tiền mà chồng tôi vay dùng vào những hành vi chơi lô đề và đánh bài vậy không ạ?

Luật sư tư vấn:

Khoản 3 điều 45 Luật hôn nhân gia đình năm 2014 quy định:

Vợ, chồng có các nghĩa vụ riêng về tài sản sau đây:

3. Nghĩa vụ phát sinh từ giao dịch do một bên xác lập, thực hiện không vì nhu cầu của gia đình;

Theo như căn cứ trên và những tình tiết bạn cung cấp thì số tiền mà chồng bạn vay để dùng vào mục đích chơi lô đề và đánh bạc, không vì nhu cầu của gia đình mà bạn không đồng ý nên nghĩa vụ trả tiền đối với khoản vay đó là nghĩa vụ riêng của chồng bạn.

Vậy nên bạn sẽ không phải trả số tiền mà chồng bạn đã vay để chơi lô đề này mà chồng bạn sẽ phải trả số tiền đã vay này bằng tài sản riêng của chồng bạn.

>&gt Xem thêm:  Quy định của pháp luật về hành vi cá độ ?

5. Ghi lô đề sẽ bị xử phạt như thế nào ?

Thưa luật sư, mẹ tôi mới ghi đề được hơn 1 tháng , bạn tôi có nhờ tôi ghi hộ đề rồi trả đủ tiền vào tối hôm đánh hay vào sáng hôm sau. Nhưng rồi vào 1 hôm với lý do sắp đi học nước ngoài lên đánh 1 số to vì mua số người ta cho ăn chắc vào 100% đánh cả lô với đặc biệt là 21 triệu.

Tối đó không được gì hết và b tôi có hứa là trả nhưng rồi lại lôi mẹ của b ấy vào và mẹ b ấy đe mẹ tôi là k những k trả tiền và còn kiện mẹ tôi đi tù. Nếu như nhà b kia kiện thì mẹ tôi có vi phạm và bị sử phạt như thế nào và gia đình b kia có vi phạm gì k và 1 yếu tố nữa là b kia còn là học sinh cấp 3. Cảm ơn.

– Đỗ Thị Phi Yế

Luật sư trả lời:

Thứ nhất: Sự việc của mẹ bạn ghi lô đề đây là một hành vi vi phạm pháp luật và hành vi người bạn kia đánh lô đề với mẹ bạn là một hành vi cũng được coi là đánh bạc và mẹ bạn là người tổ chức đánh bạc. Vậy nên nếu họ có báo công an thì mẹ bạn có thể phải chịu trách nhiệm hình sự về tội tổ chức đánh bạc còn người bạn kia có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội đánh bạc theo Bộ Luật hình sự 2015 sửa đổi bổ sung 2017. Vậy nên việc họ báo công an thì người bạn kia đồng thời cũng phải chịu trách nhiệm hình sự. Đối với số tiền người bạn kia đánh lô nợ mà không thanh toán thì mẹ bạn cũng không có căn cứ nào để đòi thanh toán nợ theo quy định pháp luật. Vì thực chất đây là hành vi giao dịch vi phạm pháp luật nên sẽ không được pháp luật bảo vệ.

Thứ hai: Nếu sự việc này bị đưa ra pháp luật thì mẹ bạn có thể bị khởi tố về tội tổ chức dánh bạc hoặc gá bạc theo quy định tại Điều 322. Tội tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc Bộ Luật hình sự 2015 sửa đổi bổ sung 2017. Từ căn cứ pháp lý có thể thấy một điều rằng là hình phạt như thế nào phụ thuộc vào mức độ vi phạm cũng như thu lợi từ hoạt động ghi lô đề như thế nào sẽ có mức hình phạt phù hợp.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật Hình sự – Công ty luật Minh Khuê

>&gt Xem thêm:  Khách hàng tự ý tổ chức bài bạc trong quán xá của mình thì có phải chịu trách nhiệm không?